Tác giả: Đại tá, Thạc sĩ: Nguyễn Ngọc Điệp)
Đăng bởi: Nguyễn Quang Tuyển
Bộ đội Cảnh sát Vũ trang Nhân dân Trung Quốc (gọi tắt là Vũ cảnh) có nhiệm vụ cơ bản là bảo vệ an ninh quốc gia, duy trì ổn định xã hội. Vũ cảnh chịu sự lãnh đạo song trùng của Chính phủ (Quốc vụ viện) và Quân ủy Trung ương, được biên chế quân số là 66 vạn, bao gồm 8 lực lượng: Bộ đội Nội vệ, Hoàng kim, Sâm lâm (Rừng rậm), Thủy điện, Giao thông, Bộ đội Biên phòng công an (bên cạnh Bộ đội biên phòng công an, Trung Quốc còn có Bộ đội biên phòng quân đội – ND), Bộ đội phòng cháy chữa cháy, Bộ đội Cảnh vệ. Tiền thân của Vũ cảnh là Bộ đội cảnh sát Vũ trang Biên phòng. Năm 1951, Trung ương quyết định gộp Bộ đội Biên phòng Nội vệ, Bộ đội Công an địa phương thành Bộ đội Công an Giải phóng quân, trực thuộc Quân ủy Trung ương. Năm 1957 đổi thành Bộ đội Công an Nhân dân, 1958 chuyển tên thành Cảnh sát Vũ trang Nhân dân. Năm 1963, đổi tên thành Bộ đội Công an, chịu sự lãnh đạo song trùng của Quân ủy Trung ương và Bộ Công an. Năm 1979, đổi tên thành Cảnh sát Vũ trang Biên phòng.
Ngày 19/6/1982, BCH Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc quyết định chuyển lực lượng Quân đội làm nhiệm vụ bảo vệ nội địa cùng với lực lượng Cảnh sát theo chế độ nghĩa vụ quân sự gồm Cảnh sát Biên phòng, Cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Cảnh sát vũ trang thành “Bộ đội Cảnh sát Vũ trang Nhân dân Trung Quốc” (Vũ cảnh). Vũ cảnh là một bộ phận cấu thành lực lượng vũ trang nhân dân Trung Quốc, chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ và Quân ủy Trung ương, chịu sự quản lý, chỉ huy của các cơ quan Công an các cấp. Cơ quan cao nhất của vũ cảnh là Tổng bộ Vũ cảnh. Ngày 5/4/1983, Tổng bộ Vũ cảnh chính thức thành lập.
Ngày 1/1/1985, Bộ đội Thủy điện (thành lập tháng 8/1966), Bộ đội Giao thông (thành lập tháng 8/1966) và Bộ đội Hoàng kim (thành lập tháng 3/1979) sáp nhập vào Vũ cảnh. Ở Tổng bộ Vũ cảnh thành lập các Bộ chỉ huy Bộ đội thủy điện, Hoàng kim, Giao thông. Ngày 4/2/1988, Bộ đội Cảnh sát Vũ trang Sâm lâm cũng sáp nhập vào Vũ cảnh. Ở Bộ Lâm nghiệp thành lập Văn phòng Cảnh sát Sâm lâm. Tháng 8/1985, Bộ Công an quyết định tách lực lượng Cảnh sát vũ trang phòng cháy chữa cháy, lực lượng Cảnh sát vũ trang Biên phòng toàn quốc, khỏi Tổng bộ Vũ cảnh, chịu sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp của Bộ Công an.
Tháng 3/1995, Quân ủy Trung ương quyết định chuyển Vũ cảnh về trực thuộc Chính phủ, Vũ cảnh chịu sự lãnh đạo song trùng của Chính phủ và Quân ủy Trung ương. Tháng 10/1996, Quân ủy Trung ương chuyển 14 sư đoàn lục quân vào Vũ cảnh.
Sau đây xin giới thiệu cụ thể các lực lượng của Vũ cảnh:
1. Bộ đội Nội vệ:
Đây là thành phần chủ yếu của Vũ cảnh. Bộ đội Nội vệ chịu sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp của Tổng bộ Vũ cảnh, bao gồm 14 sư đoàn cảnh sát vũ trang, các Tổng đội Nội vệ của các tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc Trung ương. Ở cấp địa khu (cấp dưới tỉnh, trên cấp huyện) thành lập Chi đội Nội vệ, cấp huyện thành lập Trung đội Nội vệ.
Nhiệm vụ:
- Canh gác, bảo vệ các mục tiêu cố định, tuần tra vũ trang ở các thành phố, bảo đảm an ninh các mục tiêu trọng yếu của Nhà nước.
- Xử lý các sự kiện đột xuất, bảo vệ ổn định xã hội và an ninh quốc gia, quán triệt các nguyên tắc và phương châm chống khủng bố của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ chống khủng bố, giải thoát con tin.
- Ngăn chặn các hành vi phạm pháp.
- Thực hiện các nhiệm vụ cứu nạn.
2. Bộ đội Hoàng kim:
Nhiệm vụ chủ yếu là thăm dò địa chất và sản xuất vàng. Ở Tổng bộ Vũ cảnh thành lập Bộ chỉ huy Bộ đội Hoàng kim, trực thuộc Bộ chỉ huy có các Tổng đội Hoàng kim.
3. Bộ đội Thủy điện:
Nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng các công trình năng lượng trọng điểm quốc gia, bao gồm các công trình thủy điện, thủy lợi vừa và lớn. Ở Tổng bộ Vũ cảnh thành lập Bộ chỉ huy Bộ đội Thủy điện, trực thuộc Bộ chỉ huy có các Tổng đội Thủy điện.
4. Bộ đội Giao thông:
Có nhiệm vụ thi công các công trình giao thông, bến cảng trọng điểm. Ở Tổng bộ Vũ cảnh thành lập Bộ chỉ huy Bộ đội Giao thông, trực thuộc Bộ chỉ huy có các Tổng đội Giao thông.
5. Bộ đội Sâm lâm:
Có nhiệm vụ phòng, chống cháy rừng, bảo vệ trị an và tài nguyên khu vực rừng. Ở Tổng bộ Vũ cảnh thành lập Bộ chỉ huy Sâm lâm, trực thuộc Bộ chỉ huy có các Tổng đội Sâm lâm.
Các lực lượng Bộ đội Hoàng kim, Giao thông, Thủy điện, Sâm lâm là lực lượng Bộ đội xây dựng kinh tế, đồng thời gánh vác nhiệm vụ bảo vệ an ninh và duy trì trật tự ổn định xã hội. Các lực lượng này chịu sự lãnh đạo song trùng của Tổng bộ Vũ cảnh và các bộ phận hữu quan của Chính phủ.
6. Bộ đội Biên phòng:
Bộ đội Biên phòng còn có tên là Bộ đội Biên phòng Công an (để phân biệt với Bộ đội Biên phòng Quân đội). Nhiệm vụ chủ yếu của Bộ đội Biên phòng là:
- kiểm tra biên giới, tuần tra biên giới, quản lý bảo vệ trị an vùng biên giới,
- đánh bắt buôn lậu trên biển, duy trì trật tự xã hội ở khu vực biên phòng,
- giám hộ và kiểm tra biên phòng ở các cửa khẩu và các đường thông biên giới,
- cảnh giới, tuần tra vùng tiếp giáp Hồng Kông và Ma Cao.
Bộ đội Biên phòng Công an gồm 30 Tổng đội Biên phòng ở các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung ương; 110 Chi đội Biên phòng Công an ở các địa khu; 20 Chi đội Cảnh sát biển; 207 Trạm kiểm tra Biên phòng ở các cửa khẩu có khu vực kinh tế mở; 310 đại đội Công an Biên phòng ở các huyện biên giới; 1961 đồn Công an Biên phòng; 46 Trạm kiểm tra Biên phòng ở các đường thông biên giới chủ yếu; 113 đội cơ động ở các đoạn biên giới trọng điểm (theo Sách trắng Quốc phòng Trung Quốc 2008).
Bộ đội Biên phòng Công an chịu sự quản lý của Cục Quản lý Biên phòng – Bộ Công an.
Bộ đội Biên phòng Công an cùng với Bộ đội Biên phòng Quân đội kiên quyết ủng hộ chính sách đại đoàn kết dân tộc và ổn đinh xã hội khu vực biên phòng, phát triển kinh tế vùng biên giới, nghiêm chỉnh chấp hành chính sách tôn giáo và chính sách dân tộc của Nhà nước, tăng cường đoàn kết quân dân, góp phần đóng góp cho sự nghiệp phát triển tiến bộ xã hội và ổn định chính trị ở khu vực biên phòng.
7. Bộ đội phòng cháy, chữa cháy:
Có nhiệm vụ chủ yếu là phòng cháy, chữa cháy, do Cục Quản lý phòng cháy, chữa cháy Bộ Công an quản lý.
Ở các tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc Trung ương có các Tổng đội phòng cháy, chữa cháy.
8. Bộ đội Cảnh vệ:
Có nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo chủ chốt của các tỉnh và tương đương, bảo vệ các đoàn khách quốc tế quan trọng đến thăm Trung Quốc, bảo vệ các khu ngoại giao, sứ quán, các hội nghị và các hoạt động văn hóa thể thao quy mô nhà nước.
Bộ đội Cảnh vệ chịu sự lãnh đạo của Cục Cảnh vệ - Bộ Công an.
Các lực lượng Biên phòng, Phòng cháy chữa cháy, Cảnh vệ không chịu sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp của Tổng bộ Vũ cảnh. Tổng bộ Vũ cảnh chỉ có vai trò chỉ đạo các lực lượng này về quân sự, chính trị và hậu cần. Lãnh đạo, quản lý trực tiếp các lực lượng này lại là các cục hữu quan của Bộ Công an. Các lực lượng này có quyền chấp pháp.
Theo Sách trắng Quốc phòng Trung Quốc năm 2006 và 2008 thì Vũ cảnh là một trong ba thành phần của lực lượng vũ trang Trung Quốc bao gồm: Quân đội, Vũ cảnh và Dân binh. Bộ đội Vũ cảnh được hưởng chế độ chính sách đãi ngộ hoàn toàn như Quân đội. Lực lượng Vũ cảnh là quân nhân tại ngũ, có các điều lệnh đội ngũ, điều lệnh kỷ luật, điều lệnh nội vụ giống như Quân đội nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ của Vũ cảnh mà vi phạm pháp luật thì do Tòa án quân sự xét xử. Mặc dù Tổng bộ Vũ cảnh là cơ quan ngang Bộ, trực thuộc Chính phủ nhưng Bộ trưởng Bộ Công an vẫn kiêm nhiệm chức Chính ủy thứ nhất Bộ đội Vũ cảnh.
Các tài liệu dùng để tổng hợp và biên dịch:
- Bộ đội cảnh sát vũ trang nhân dân Trung Quốchttp://news.xinhuanet.com/ziliao/2004-07/20/content_1618190.htm
- Biện pháp cụ thể thực hiện chế độ cảnh hàm Bộ đội Vũ cảnh http://www.china.com.cn/chinese/zhuanti/xian/451483.htm
- Sách trắng Quốc phòng Trung Quốc 2008http://mil.news.sina.com.cn/2009-01-20/1058539493.html
Chú thích ảnh: Trang phục mới nhất kiểu 07 của Vũ cảnh thực hiện từ 2007
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
chào bạn,
Trả lờiXóabài viết của bạn làm mình hơi nghi ngờ về tiếng Việt của mình. Bạn vui lòng giúp mình những thắc mắc này nha.
Trước hết là chữ "bộ đội". Theo mình hiểu chữ này được sử dụng thay thế cho chữ "lính" hay "binh sĩ" hay những chữ khác có nghĩa tương đương. Kế đó là chữ "cảnh sát", chữ này chỉ về người nhân viên hay cơ quan làm nhiệm vụ giữ an ninh tương đương với chữ "công an" (nghĩa là an ninh công cộng). 2 lực lượng này không tương đương về nhiệm vụ và trách nhiệm.
Vậy cách dùng từ "bộ đội cảnh sát vũ trang" làm mình rất bối rối. Nếu có thể bạn giải thích giùm nghĩa của các chữ sau: bộ đội, cảnh sát, bộ đội cảnh sát.
chân thành cám ơn,
p/s: vì hiểu biết hạn chế nên mới hỏi vậy, chứ không mang tính vặn hỏi.
"bộ đội" theo nghĩa của việt nam có nghĩa là quân đội, còn "Bộ đội" theo ý hiểu của trung quốc nghĩa là "Lực lượng"."Bộ đội cảnh sát vũ trang" ở đây có thể hiểu là: Lực lượng cảnh sát vũ trang đó
Trả lờiXóa