Thứ Hai, 17 tháng 8, 2009

Cách mạng Văn hóa và bài báo chữ to “Nã pháo vào Bộ Tư Lệnh” của Mao Trạch Đông

Tác giả: Đại tá, Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Điệp
Đăng bởi: Nguyễn Quang Tuyển
Vào những ngày này 43 năm trước, cuộc” Đại Cách mạng Văn hóa vô sản”Trung Quốc bắt đầu bùng nổ. Chính Mao Trạch Đông là người khai hỏa cho cuộc nội loạn khủng khiếp nhất trong lịch sử dựng nước của Trung Quốc bằng việc viết bài báo chữ to “Nã pháo vào Bộ tư lệnh”.
Báo chữ to là báo tường, nét chữ to là một hình thức để mọi người phát biểu thái độ của mình trước dư luận. Trung Quốc gọi báo chữ to là một trong “4 cái to” là :kêu to (tự do lên tiếng), phát biểu to (tự do phát biểu), báo chữ to, biện luận to.
Ngày 25/5/1966 có bài báo chữ to của Nhiếp Nguyên Tử dán trong trường ĐH Bắc Kinh kết tội Đảng ủy ĐH Bắc Kinh và Thành ủy Bắc Kinh là theo chủ nghĩa xét lại. Ngày 1/8/1966 Hội nghị toàn thể lần thứ 11 khóa 8 Ban CHTƯ ĐCSTQ họp .Ngày 5/8/1966 Mao Trạch Đông dùng bút chì viết bên lề tờ báo Nhân dân Nhật báo “Nã Pháo vào Bộ tư lệnh”, cùng ngày Nhân dân Nhật báo đăng toàn văn bài báo trên của Mao Trạch Đông. Đại cách mạng văn hóa vô sản của Trung Quốc được bắt đầu như thế!
Ngày 7/8/1966 Mao Trạch Đông hiệu đính, thêm tiêu đề, đính kèm bài báo của Nhiếp Nguyên Tử, cho in và phát cho mọi đại biểu tham dự hội nghị. Bài báo này đã công khai hóa mâu thuẫn trầm trọng giữa Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ. Sau này Đặng Tiểu Bình có nói: “Trong hội nghị toàn thể lần thứ 11, bài báo chữ to của Mao Trạch Đông chính là nhằm bắn vào Lưu Thiếu Kỳ và tôi”.
Sau đây là toàn văn bài báo của Mao Trạch Đông
“Nã pháo vào Bộ Tư Lệnh – Một bài báo chữ to của Tôi
Ngày 5/8/1966
Bài báo chữ to Mác Lênin đầu tiên trong nước ta và bài bình luận của bình luận viên Nhân dân Nhật báo viết mới hay làm sao! Yêu cầu các đồng chí đọc lại bài báo chữ to và bài bình luận này. Nhưng trong hơn 50 ngày qua, một số đồng chí lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương, ngược lại lại phản đối, họ đứng trên lập trường của giai cấp tư sản phản động, thực hành chuyên chính tư sản, đánh vào phong trào Đại cách mạng Văn hóa rầm rộ của giai cấp vô sản, lật ngược phải trái, trắng đen lẫn lộn, vây quét phái cách mạng, áp chế những ý kiến bất đồng, thực hiện khủng bố trắng, tự họ lấy làm hả dạ, thổi phồng uy phong của giai cấp tư sản, diệt chí khí của giai cấp vô sản, thật là thâm độc! Liên hệ đến khuynh hướng sai lầm hữu khuynh năm 1962 và “tả” nhưng thật ra lại là hữu khuynh năm 1964, chắng nhẽ lại không làm cho mọi người thức tỉnh hay sao?
Mao Trạch Đông “
Xin được giải thích những sự kiện lạ trong bài báo này như sau:
1. “Báo chữ to Mác Lênin đầu tiên trong nước” cụ thể là ai?
Đó chính là Nhiếp Nguyên Tử. Ngày 25/6/1966 Nhiếp Nguyên Tử và 7 người khác tại ĐH Bắc Kinh đã viết bài báo chữ to nhằm vào Đảng ủy ĐH Bắc Kinh: “Tống Thạc, Lục Bình, Bành Khâm Vân, cuối cùng đã làm gì trong đại cách mạng Văn hóa?”
2. “Trong hơn 50 ngày” là chỉ vào thời gian nào? “Một số đồng chí lãnh đạo từ trung ương đến địa phương thực hiện khủng bố trắng” là dựa vào chứng cứ nào?
Ngày 3/6/1966 dưới sự chủ trì của Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình, ban chấp hành Trung ương quyết định cử các tổ công tác xuống các trường đại học và trung học ở Bắc Kinh để lãnh đạo Cách mạng Văn hóa của các đơn vị, nhiều nơi trong nước đã xuất hiện hiện tượng đối kháng giữa học sinh và tổ công tác, nhiều tổ công tác đã coi học sinh là phản cách mạng. Lưu Thiếu Kỳ đề ra 8 điều của Trung ương và các chính sách khác, nhằm hạn chế các phong trào tự phát của học sinh sinh viên.
Ngày 24/7/1966 Mao Trạch Đông triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương và Tiểu tổ Cách mạng Văn hóa Trung ương, phê bình Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình, ra quyết định giải tán tổ công tác.
Sau này những ngày từ đầu tháng 6/1966 đến cuối tháng 7/1966 mang tên gọi là “50 ngày đường lối phải động của giai cấp tư sản”
3. Trong bài báo có nói đến “khuynh hướng sai lầm hữu khuynh năm 1962 và tả nhưng thực ra lại là hữu năm 1964” là chỉ sự kiện lịch sử nào?
Trong “Đại hội 7 nghìn người” năm 1962(hội nghị BCHTWĐCSTQ mở rộng từ 11/1 đến 7/2/1962) và trong hoạch định một loạt chính sách của Lưu Thiếu Kỳ nhằm điều chỉnh, khôi phục và nới lỏng về kinh tế và văn hóa. Chủ trương này của Lưu Thiếu Kỳ được Mao Trạch Đông cho là hưũ khuynh. Năm 1964 Lưu Thiếu Kỳ nêu ra chính sách chỉnh đốn cán bộ cơ sở nông thôn. Chính sách này Mao Trạch Đông cho là khuynh hướng sai lầm tả nhưng thực chất lại là hữu khuynh.
Trong hội nghị trung ưng lần thứ 8 Lưu Thiếu Kỳ bị cách chức Phó Chủ tịch Đảng, tuy Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình vần là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, nhưng trên thực tế đã không còn cương vị lãnh đạo mà rơi vào vị trí bị phê phán, địa vị của Lưu Thiếu Kỳ từ vị trí thứ 2 xuống thứ 8, Lâm Bưu từ vị trí thứ 6 nhảy lên vị trí thứ 2. Cùng thời gian này, tạp chí Hồng Kỳ kỳ 5 trong bài “Chủ nghĩa yêu nước hay là chủ nghĩa bán nước” kết tội Lưu Thiếu Kỳ : là phái đương quyền lớn nhất trong Đảng đi con đường tư bản chủ nghĩa, Lưu Thiếu Kỳ dám phản đối tư tưởng Mao Trạch Đông vĩ đại. Lưu Thiếu Kỳ là cách mạng giả, là phản cách mạng, là Khơ rút xốp ngủ bên cạnh chúng ta”
Ngày 1/1/1967 sinh viên các trường ĐH Bắc Kinh tụ tập tại quảng trường Thiên An Môn kết tội Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình và kêu gọi sinh viên toàn quốc phê đấu Lưu Thiếu Kỳ.
Sau này, ngày 30/4/1987 khi tiếp Phó Thủ tướng, Phó Tổng thư ký Đảng Xã hôi Công nhân Tây Ban Nha, Đặng Tiểu Bình nói : “Năm 1966 bắt đầu cách mạng văn hóa, tiến hành 10 năm, đó là một thảm khốc, hồi đó rất nhiều nhà lãnh đạo lão thành bị bức hại, trong đó có cả Tôi, Tôi là nhân vật thứ 2 sau Lưu Thiếu Kỳ được cho là phái đương quyền đi con đường tư bản chủ nghĩa”.
Tại hôi nghị lần thứ 12 khóa 8, 70% ủy viên trung ương bị phê phán, bị vu khống là đặc vụ, là phần tử phản động. Ngày 18/10/1968 “Tiểu tổ Thẩm tra Chuyên án TƯ” : Giang Thanh, Khang Sinh, Tạ Phú Trị đề xuất báo cáo “Thẩm tra về tội nội gián, chống đối phản bội của Lưu Thiếu Kỳ”. Ngày 31/10/1968 Hội nghị toàn thể lần thứ 12 khóa 8 ban CHTƯĐCS TQ phê chuẩn báo cáo trên và ra kết luận :” Lưu Thiếu Kỳ là kẻ số 1 đương quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, là kẻ phản bội nội gián nằm trong Đảng, là chó săn của chủ nghĩa Đế quốc, chủ nghĩa Xét lại, là phái phản động Quốc Dân Đảng đầy tội ác.”, thông qua quyết định khai trừ vĩnh viễn Lưu Thiếu Kỳ ra khỏi Đảng, hủy bỏ tất cả mọi chức vụ trong và ngoài Đảng của Lưu Thiếu Kỳ. Với tội danh ấy, Lưu Thiếu Kỳ bị bắt giam. Ngày 17/10/1969 Lưu Thiếu Kỳ bị đưa đến nhà giam số 10 Đường Bắc Thổ thị xã Khai Phong tỉnh Hà Nam . Ông mất ngày 12/11/1969 tại nhà tù thọ 71 tuổi. Thi hài ông được bí mật hỏa táng, đơn xin hỏa táng của một người có tên là Lưu Vệ Hoàng, không nghề nghiệp( chú thích : ám chỉ Lưu Thiếu Kỳ là người bảo vệ Hoàng đế-TG).
Hội nghị lần thứ 5 khóa 11 tháng 2/1980 của BCH TƯ ĐCS TQ trịnh trọng ra quyết định rửa sạch oan sai và phục hồi danh dự cho đồng chí Lưu Thiếu Kỳ.
Ngày 17/5/1980 tại Đại lễ đường Nhân dân, Đảng và Nhà nước TQ đã tổ chức trọng thể lễ truy điệu Lưu Thiếu Kỳ. Trong điếu văn của BCH TƯ Đ do ĐặngTiểu Bình đọc có đoạn “hôm nay, với tình cảm tiếc thương vô hạn, chúng ta tưởng nhớ đồng chí Lưu Thiếu Kỳ- Nhà cách mạng vô sản và nhà macxit vĩ đại. Đồng chí là nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng và Nhà nước TQ. Trong thời kỳ cách mạng Văn hóa, bè lũ Giang Thanh, Lâm Bưu thực hiện âm mưu phản cách mạng hòng đoạt quyền lãnh đạo của Đảng, lợi dụng sai lầm và khuyết điểm của Đảng ta, chúng vu khống và bức hại đồng chí Lưu Thiếu Kỳ một cách tàn khốc.”, “Lịch sử rất công bằng đối với mỗi người lãnh đạo và xây dựng của nước Trung Hoa mới, không lãng quên công trạng của bất kỳ người nào và cũng như các đồng chí Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Chu Đức, đồng chí Lưu Thiếu Kỳ mãi mãi sống trong lòng nhân dân các dân tộc TQ”
Tại Hội nghị lần thứ 6 khóa 11 Ban CHT Ư ĐCS TQ năm 1981 thông qua “Quyết định về một số vần đề lịch sử của Đảng từ ngày thành lập nước” đã “phủ định một cách toàn diện Cách mạng Văn hóa cả về lí luận lẫn thực tiễn”, nhận định “Cách mạng Văn hóa là một cuộc nội loạn do sự phát động sai lầm của người lãnh đạo, bị hai tập đoàn phản cách mạng Giang Thanh và Lâm Bưu lợi dụng, đã đem lại tổn thất nghiêm trọng cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân các dân tộc Trung Hoa”
Tháng 4/1987 Trung Quốc phát hành tiền giấy nhân dân tệ mệnh giá 100 tệ, Lưu Thiếu Kỳ là một trong 4 nhân vật có hình nổi trên mặt chính của đồng tiền mệnh giá này, các nhân vật còn lại là Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, và Chu Đức.Ngày 9/9/1977 Trung Quốc khánh thành Lăng Kỉ niệm Mao Trạch Đông tại quảng trường Thiên An Môn,sau đó lăng kỉ niệm này được xây dựng thêm phòng các lãnh tụ của Đảng và Nhà nước.Các phòng này nằm trên tầng hai ,đó là các phòng : phòng Mao Trạch Đông ,Lưu Thiếu Kỳ,Chu Ân Lai ,Chu Đức ,Đặng Tiểu Bình và Trần Vân.
Mao Trach Dong va Luu Thieu Ky
Mao Trach Dong va Giang Thanh
Tài liệu dùng đẻ tổng hợp :
1.Nã pháo vào Bộ tư lệnh.
http://www.wyzxsx.com/Article/Class22/200802/32984.html
2.Về cái chết của Lưu Thiếu Kỳ
http://phtv.ifeng.com/program/tfzg/200804/0423_2950_504650.sht
.html
3.Điếu văn của Ban CHTƯĐCS TQ tại lễ truy điệu Lưu Thiếu Kỳ
http://cpc.people.com.cn/GB/69112/73583/73600/5039884.html

Bộ đội cảnh sát vũ trang nhân dân Trung Quốc

Tác giả: Đại tá, Thạc sĩ: Nguyễn Ngọc Điệp)
Đăng bởi: Nguyễn Quang Tuyển
Bộ đội Cảnh sát Vũ trang Nhân dân Trung Quốc (gọi tắt là Vũ cảnh) có nhiệm vụ cơ bản là bảo vệ an ninh quốc gia, duy trì ổn định xã hội. Vũ cảnh chịu sự lãnh đạo song trùng của Chính phủ (Quốc vụ viện) và Quân ủy Trung ương, được biên chế quân số là 66 vạn, bao gồm 8 lực lượng: Bộ đội Nội vệ, Hoàng kim, Sâm lâm (Rừng rậm), Thủy điện, Giao thông, Bộ đội Biên phòng công an (bên cạnh Bộ đội biên phòng công an, Trung Quốc còn có Bộ đội biên phòng quân đội – ND), Bộ đội phòng cháy chữa cháy, Bộ đội Cảnh vệ. Tiền thân của Vũ cảnh là Bộ đội cảnh sát Vũ trang Biên phòng. Năm 1951, Trung ương quyết định gộp Bộ đội Biên phòng Nội vệ, Bộ đội Công an địa phương thành Bộ đội Công an Giải phóng quân, trực thuộc Quân ủy Trung ương. Năm 1957 đổi thành Bộ đội Công an Nhân dân, 1958 chuyển tên thành Cảnh sát Vũ trang Nhân dân. Năm 1963, đổi tên thành Bộ đội Công an, chịu sự lãnh đạo song trùng của Quân ủy Trung ương và Bộ Công an. Năm 1979, đổi tên thành Cảnh sát Vũ trang Biên phòng.

Ngày 19/6/1982, BCH Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc quyết định chuyển lực lượng Quân đội làm nhiệm vụ bảo vệ nội địa cùng với lực lượng Cảnh sát theo chế độ nghĩa vụ quân sự gồm Cảnh sát Biên phòng, Cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Cảnh sát vũ trang thành “Bộ đội Cảnh sát Vũ trang Nhân dân Trung Quốc” (Vũ cảnh). Vũ cảnh là một bộ phận cấu thành lực lượng vũ trang nhân dân Trung Quốc, chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ và Quân ủy Trung ương, chịu sự quản lý, chỉ huy của các cơ quan Công an các cấp. Cơ quan cao nhất của vũ cảnh là Tổng bộ Vũ cảnh. Ngày 5/4/1983, Tổng bộ Vũ cảnh chính thức thành lập.

Ngày 1/1/1985, Bộ đội Thủy điện (thành lập tháng 8/1966), Bộ đội Giao thông (thành lập tháng 8/1966) và Bộ đội Hoàng kim (thành lập tháng 3/1979) sáp nhập vào Vũ cảnh. Ở Tổng bộ Vũ cảnh thành lập các Bộ chỉ huy Bộ đội thủy điện, Hoàng kim, Giao thông. Ngày 4/2/1988, Bộ đội Cảnh sát Vũ trang Sâm lâm cũng sáp nhập vào Vũ cảnh. Ở Bộ Lâm nghiệp thành lập Văn phòng Cảnh sát Sâm lâm. Tháng 8/1985, Bộ Công an quyết định tách lực lượng Cảnh sát vũ trang phòng cháy chữa cháy, lực lượng Cảnh sát vũ trang Biên phòng toàn quốc, khỏi Tổng bộ Vũ cảnh, chịu sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp của Bộ Công an.
Tháng 3/1995, Quân ủy Trung ương quyết định chuyển Vũ cảnh về trực thuộc Chính phủ, Vũ cảnh chịu sự lãnh đạo song trùng của Chính phủ và Quân ủy Trung ương. Tháng 10/1996, Quân ủy Trung ương chuyển 14 sư đoàn lục quân vào Vũ cảnh.

Sau đây xin giới thiệu cụ thể các lực lượng của Vũ cảnh:

1. Bộ đội Nội vệ:

Đây là thành phần chủ yếu của Vũ cảnh. Bộ đội Nội vệ chịu sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp của Tổng bộ Vũ cảnh, bao gồm 14 sư đoàn cảnh sát vũ trang, các Tổng đội Nội vệ của các tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc Trung ương. Ở cấp địa khu (cấp dưới tỉnh, trên cấp huyện) thành lập Chi đội Nội vệ, cấp huyện thành lập Trung đội Nội vệ.

Nhiệm vụ:
- Canh gác, bảo vệ các mục tiêu cố định, tuần tra vũ trang ở các thành phố, bảo đảm an ninh các mục tiêu trọng yếu của Nhà nước.
- Xử lý các sự kiện đột xuất, bảo vệ ổn định xã hội và an ninh quốc gia, quán triệt các nguyên tắc và phương châm chống khủng bố của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ chống khủng bố, giải thoát con tin.
- Ngăn chặn các hành vi phạm pháp.
- Thực hiện các nhiệm vụ cứu nạn.

2. Bộ đội Hoàng kim:

Nhiệm vụ chủ yếu là thăm dò địa chất và sản xuất vàng. Ở Tổng bộ Vũ cảnh thành lập Bộ chỉ huy Bộ đội Hoàng kim, trực thuộc Bộ chỉ huy có các Tổng đội Hoàng kim.

3. Bộ đội Thủy điện:

Nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng các công trình năng lượng trọng điểm quốc gia, bao gồm các công trình thủy điện, thủy lợi vừa và lớn. Ở Tổng bộ Vũ cảnh thành lập Bộ chỉ huy Bộ đội Thủy điện, trực thuộc Bộ chỉ huy có các Tổng đội Thủy điện.

4. Bộ đội Giao thông:

Có nhiệm vụ thi công các công trình giao thông, bến cảng trọng điểm. Ở Tổng bộ Vũ cảnh thành lập Bộ chỉ huy Bộ đội Giao thông, trực thuộc Bộ chỉ huy có các Tổng đội Giao thông.

5. Bộ đội Sâm lâm:

Có nhiệm vụ phòng, chống cháy rừng, bảo vệ trị an và tài nguyên khu vực rừng. Ở Tổng bộ Vũ cảnh thành lập Bộ chỉ huy Sâm lâm, trực thuộc Bộ chỉ huy có các Tổng đội Sâm lâm.

Các lực lượng Bộ đội Hoàng kim, Giao thông, Thủy điện, Sâm lâm là lực lượng Bộ đội xây dựng kinh tế, đồng thời gánh vác nhiệm vụ bảo vệ an ninh và duy trì trật tự ổn định xã hội. Các lực lượng này chịu sự lãnh đạo song trùng của Tổng bộ Vũ cảnh và các bộ phận hữu quan của Chính phủ.

6. Bộ đội Biên phòng:

Bộ đội Biên phòng còn có tên là Bộ đội Biên phòng Công an (để phân biệt với Bộ đội Biên phòng Quân đội). Nhiệm vụ chủ yếu của Bộ đội Biên phòng là:
- kiểm tra biên giới, tuần tra biên giới, quản lý bảo vệ trị an vùng biên giới,
- đánh bắt buôn lậu trên biển, duy trì trật tự xã hội ở khu vực biên phòng,
- giám hộ và kiểm tra biên phòng ở các cửa khẩu và các đường thông biên giới,
- cảnh giới, tuần tra vùng tiếp giáp Hồng Kông và Ma Cao.

Bộ đội Biên phòng Công an gồm 30 Tổng đội Biên phòng ở các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung ương; 110 Chi đội Biên phòng Công an ở các địa khu; 20 Chi đội Cảnh sát biển; 207 Trạm kiểm tra Biên phòng ở các cửa khẩu có khu vực kinh tế mở; 310 đại đội Công an Biên phòng ở các huyện biên giới; 1961 đồn Công an Biên phòng; 46 Trạm kiểm tra Biên phòng ở các đường thông biên giới chủ yếu; 113 đội cơ động ở các đoạn biên giới trọng điểm (theo Sách trắng Quốc phòng Trung Quốc 2008).

Bộ đội Biên phòng Công an chịu sự quản lý của Cục Quản lý Biên phòng – Bộ Công an.

Bộ đội Biên phòng Công an cùng với Bộ đội Biên phòng Quân đội kiên quyết ủng hộ chính sách đại đoàn kết dân tộc và ổn đinh xã hội khu vực biên phòng, phát triển kinh tế vùng biên giới, nghiêm chỉnh chấp hành chính sách tôn giáo và chính sách dân tộc của Nhà nước, tăng cường đoàn kết quân dân, góp phần đóng góp cho sự nghiệp phát triển tiến bộ xã hội và ổn định chính trị ở khu vực biên phòng.

7. Bộ đội phòng cháy, chữa cháy:

Có nhiệm vụ chủ yếu là phòng cháy, chữa cháy, do Cục Quản lý phòng cháy, chữa cháy Bộ Công an quản lý.

Ở các tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc Trung ương có các Tổng đội phòng cháy, chữa cháy.

8. Bộ đội Cảnh vệ:

Có nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo chủ chốt của các tỉnh và tương đương, bảo vệ các đoàn khách quốc tế quan trọng đến thăm Trung Quốc, bảo vệ các khu ngoại giao, sứ quán, các hội nghị và các hoạt động văn hóa thể thao quy mô nhà nước.

Bộ đội Cảnh vệ chịu sự lãnh đạo của Cục Cảnh vệ - Bộ Công an.

Các lực lượng Biên phòng, Phòng cháy chữa cháy, Cảnh vệ không chịu sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp của Tổng bộ Vũ cảnh. Tổng bộ Vũ cảnh chỉ có vai trò chỉ đạo các lực lượng này về quân sự, chính trị và hậu cần. Lãnh đạo, quản lý trực tiếp các lực lượng này lại là các cục hữu quan của Bộ Công an. Các lực lượng này có quyền chấp pháp.

Theo Sách trắng Quốc phòng Trung Quốc năm 2006 và 2008 thì Vũ cảnh là một trong ba thành phần của lực lượng vũ trang Trung Quốc bao gồm: Quân đội, Vũ cảnh và Dân binh. Bộ đội Vũ cảnh được hưởng chế độ chính sách đãi ngộ hoàn toàn như Quân đội. Lực lượng Vũ cảnh là quân nhân tại ngũ, có các điều lệnh đội ngũ, điều lệnh kỷ luật, điều lệnh nội vụ giống như Quân đội nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ của Vũ cảnh mà vi phạm pháp luật thì do Tòa án quân sự xét xử. Mặc dù Tổng bộ Vũ cảnh là cơ quan ngang Bộ, trực thuộc Chính phủ nhưng Bộ trưởng Bộ Công an vẫn kiêm nhiệm chức Chính ủy thứ nhất Bộ đội Vũ cảnh.

Các tài liệu dùng để tổng hợp và biên dịch:

- Bộ đội cảnh sát vũ trang nhân dân Trung Quốchttp://news.xinhuanet.com/ziliao/2004-07/20/content_1618190.htm
- Biện pháp cụ thể thực hiện chế độ cảnh hàm Bộ đội Vũ cảnh http://www.china.com.cn/chinese/zhuanti/xian/451483.htm
- Sách trắng Quốc phòng Trung Quốc 2008http://mil.news.sina.com.cn/2009-01-20/1058539493.html

Chú thích ảnh: Trang phục mới nhất kiểu 07 của Vũ cảnh thực hiện từ 2007

Bộ đội Biên phòng Trung Quốc



Tác giả: Đại tá, Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Điệp
Đăng bởi: Nguyễn Quang Tuyển

Trung Quốc hiện có hai lực lượng Bộ đội Biên phòng nằm ở hai chủ thể quản lý khác nhau là: Bộ đội Biên phòng Quân đội (Bộ đội Biên phòng Giải phóng quân thuộc Bộ Quốc phòng) và Bộ đội Biên phòng Công an thuộc Vũ Cảnh nhưng lại chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Công an. Cả hai lực lượng Biên phòng này đều là lực lượng vũ trang, đều được biên chế là quân nhân tại ngũ, đều được hưởng chế độ đãi ngộ như nhau, đều có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia. Trong bài báo này xin được giới thiệu với bạn đọc sự khác nhau và giống nhau giữa hai lực lượng này.
1. Thể chế quản lý Biên phòng.
Trong sách trắng Quốc phòng Trung Quốc năm 2006, đã chỉ ra công tác Biên phòng của Trung Quốc do Quân ủy Trung ương và Quốc Vụ Viện thống nhất lãnh đạo. Ủy ban Biên phòng Quốc gia do Quốc Vụ Viện và các bộ phận hữu quan của quân đội tạo thành, dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương và Quốc Vụ Viện, phụ trách chỉ đạo và điều tiết công tác Biên phòng toàn quốc. Ở quân khu và ba cấp tỉnh, địa khu (cấp hành chính dưới tỉnh, trên huyện), huyện dọc biên giới, dọc bờ biển thành lập Ủy ban Biên phòng phụ trách chỉ đạo và điều tiết công tác Biên phòng ở địa phương. Từ năm 2003 nhà nước thống nhất giao cho Bộ đội Biên phòng Quân đội làm nhiệm vụ phòng vệ biên giới đất liền, trước đó nhiệm vụ phòng vệ biên giới tuyến Vân Nam giữa Trung Quốc và Mianma và tuyến biên giới Trung Quốc – Triều Tiên do Bộ đội Biên phòng Công An đảm nhiệm.
Ổn định và phát triển biên giới là cơ sở để củng cố biên phòng. Chính phủ Trung quốc coi trọng xây dựng kinh tế kết hợp với công tác dân tộc.Bộ đội Bien phòng Giải phóng quân và Bộ đội Bien phòng Công an kiên quyết ủng hộ chính sách đoàn kết dân tộc và ổn định xã hội vùng biên giới .Nghiêm chỉnh chấp hành chính sách dân tộc và tôn giáo của nhà nước,tôn trọng phong tục tập quán của các dân tộc ít người ,góp phần đóng góp cho sự nghiệp phát triển tiến bộ xã hội và ổn định chính trị ở khu vực biên phòng.
2. Nhiệm vụ chủ yếu của Bộ đội Biên phòng Quân đội
Là lực lượng bộ đội chuyên trách bám trụ biên cương, có nhiệm vụ bảo vệ nghiêm ngặt biên giới quốc gia, tuần tra bảo vệ biên giới thường xuyên, đề phòng và ngăn chặn những hành vi vượt biên trái pháp luật; đấu tranh chống lại mọi hành vi khiêu khích và xâm lược từ bên ngoài; bảo vệ an ninh tài sản của nhân dân vùng biên giới; xử lý giải quyết các vụ việc về biên giới và tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân Trung Quốc và nhân dân các nước láng giềng; tham gia xây dựng phát triển mọi mặt vùng biên giới, làm tốt công tác quần chúng và công tác dân binh.
Hiện nay đa số các nước đều thành lập lực lượng bộ đội biên phòng. Có một số nước nhiệm vụ biên phòng lại giao cho lực lượng cảnh vệ hoặc bộ đội cảnh sát đảm nhiệm. Bộ đội Biên phòng Quân đội còn là tượng trưng cho chủ quyền quốc gia ở biên giới.
3. Nhiệm vụ chủ yếu của Bộ đội Biên phòng Công an.
Bộ đội Biên phòng Công an là lực lượng chấp pháp vũ trang của nhà nước, bố trí ở các cửa khẩu và các vùng dọc biên giới, dọc bờ biển. Có trách nhiệm song trùng là lực lượng vũ trang của nhà nước lại là một lực lượng quan trọng cấu thành hệ thống công an. Nhiệm vụ chủ yếu là: bảo vệ an ninh, duy trì trật tự trị an xã hội, quản lý trị an khu vực biên giới và vùng dọc bờ biển; giám hộ và kiểm tra biên phòng ở các cửa khẩu và các đường thông biên giới; tuần tra cảnh giới vùng liền kề với Hồng Kông và Macao; phòng chống đánh bắt tội phạm, vượt biên vượt biển trái phép; chống buôn lậu qua biên giới và trên biển; mở rộng hợp tác công tác biên phòng với nước ngoài, giải quyết các sự việc về biên giới…
4. Sự khác nhau giữa Bộ đội Biên phòng Quân đội và Bộ đội Biên phòng Công an
Ngoài sự khác nhau về nhiệm vụ trên đây, hai lực lượng này còn có nhiều điểm khác nhau cơ bản sau đây:
- Về biên chế: Ở khu vực biên giới đất liền Bộ đội Biên phòng Quân đội (BĐBPQĐ) biên chế thành Trung đoàn biên phòng, Tiểu đoàn, Đại đội biên phòng; ở vùng ven biển BĐBPQĐ biên chế thành Sư đoàn biên phòng, Trung đoàn, Tiểu đoàn, Đại đội biên phòng. BĐBPQĐ do tỉnh quân khu lãnh đạo (Tỉnh quân khu tương đương với bộ chỉ huy quân sự tỉnh của VN-ND).
- Bộ đội Biên phòng Công an (BĐBPCA) ở các tỉnh thành lập Tổng đội Biên phòng, ở các vùng dọc biên giới, dọc bờ biển thành lập các Chi đội Biên phòng, Đại đội biên phòng, Đồn Công an Biên phòng, ở các cửa khẩu có khu kinh tế mở thành lập các Trạm kiểm tra Biên phòng, trên biển bố trí lực lượng Cảnh sát Biển.
- BĐBPQĐ không có quyền chấp pháp, còn BĐBPCA là lực lượng chấp pháp vũ trang quan trọng ở vùng biển và các cửa khẩu có nhiệm vụ xuất nhập cảnh. BĐBPCA thực chất là cảnh sát theo chế độ binh dịch (nghĩa vụ), có quyền trinh sát hình sự trong việc quản lý khu vực biên giới. Đồn Công an Biên phòng có nhiệm vụ quản lý hộ tịch, hộ khẩu. Đồn Công an Biên phòng làm công tác công an ở khu vực biên phòng, ngoài nhiệm vụ của Đồn Công an nói chung ra, còn có chức năng quan trọng khác là đối ngoại, hiện nay một số Đồn Công an Biên phòng còn làm nhiệm vụ tuần tra biên giới. về bản chất thì BĐBPCA là một bộ phận của cảnh sát nhân dân, là lực lượng chấp pháp vũ trang hành chính của nhà nước, cũng là bộ phận tạo thành lực lượng vũ trang nhân dân.
- Trong thời bình hai lực lượng này về nhiệm vụ cụ thể mà nói: ngoài nhiệm vụ kiểm tra biên phòng là nhiệm vụ mà BĐBPQĐ không có, còn việc phân công cụ thể giữa hai lực lượng này không hoàn toàn tách biệt, tuy BĐBPCA thuộc Bộ Công an lãnh đạo nhưng vẫn theo tiêu chuẩn yêu cầu của quân đội, việc thăng cấp chuyển ngành không có gì phân biệt.
- BĐBPCA đảm nhiệm công tác ở các cửa khẩu biên giới, các nơi gần thành phố thị xã thị trấn, tuy nhiên cũng có ngoại lệ là ở nhưng khu vực biên giới nhạy cảm thì cả hai lực lượng đều có mặt. Ở các vùng xa xôi hẻo lánh hoang vu, nơi mà những điểm kiểm tra trên đường biên giới chỉ có trên bản đồ thì BĐBPQĐ (PLA) đóng giữ ,như vùng biên giới Tân Cương, vùng biên giới Tây Tạng. BĐBPQĐ phu trách theo “tuyến” tức là bảo vệ đường biên giới, còn BĐBPCA phu trách “điểm” tức là ở các vùng tập trung đông dân cư, ở các cửa khẩu.
- BĐBPQĐ là bộ đội phòng thủ, phòng chống chủ yếu là phòng chống sự xâm lược của kẻ địch từ bên ngoài. Chức năng chính của BĐBPQĐ là đối ngoại.
- BĐBPCA phòng chống chủ yếu là hoạt động tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật ở vùng biên giới. Chức năng chính là đối nội.
Xin nói thêm năm 2001 Ban tổ chức Trung ương ra thông tư về thể chế quản lý BĐBPCA:
Điều 2: BĐBPCA do Bộ Công an trực tiếp lãnh đạo thông qua Cục Quản lý Biên phòng Bộ Công an.
Điều 4: BĐBPCA là một lực lượng của cơ quan công an làm nhiệm vụ quản lý biên phòng, thực thi quyền cảnh sát.
Điều 6: quyền quản lý biên phòng mà BĐBPCA thực hiện thuộc về công việc của trung ương do Bộ Công an trực tiếp lãnh đạo và giám đốc; quyền trị an của BĐBPCA thuộc về địa phương, do các cơ quan công an địa phương lãnh đạo.
Điều 7: BĐBPCA thực hành quyền lực theo luật cảnh sát nhân dân.
Tài liệu để tổng hợp và biên dịch:
1) BộđộiBiênphòngQuânđộivàBộđộiBiênphòngCông http://zhidao.baidu.com/question/90326403.htm
2) Bộ đội Biên phòng Quân đội
http://baike.baidu.com/view/37503.htm
3) Sách trắng Quốc phòng Trung Quốc năm 2008
http://mil.news.sina.com.cn/2009-01-20/1058539493.html